CXN _032619_14 165_ LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU, (50) NOEL 1972, TRẬN BOM KẾT THÚC CHIẾN TRANH

LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU, (50) NOEL 1972, TRẬN BOM KẾT THÚC CHIẾN TRANH
Bùi Anh Trinh
Khai thông bế tắc bằng cách dội bom: Chiến dịch Linebacker II
Năm 1972, ngày 14-12, Kissinger trở về Mỹ điện cho Đại sứ Bunker để báo cho Tổng thống Thiệu biết là Nixon sẽ thả bom mạnh mẽ vào Hà Nội để buộc Bắc Việt phải thỏa thuận những đề nghị sửa đổi bản dự thảo hiệp ước của Hoa Kỳ mà trong đó có rất nhiều điểm đề nghị của Thiệu. Nhưng cũng khuyến cáo rằng đây cũng là cố gắng cuối cùng của Nixon đối với Thiệu.
Kissinger đề nghị Nixon lên truyền hình công bố quyết định thả bom Hà Nội, nhưng Nixon lại bảo Kissinger họp báo để cho dân chúng biết rằng hiệp định ngưng bắn không đi tới kết thúc được do vì Hà Nội ngoan cố với những yêu sách quá đáng, chính phủ đang cứu xét tới biện pháp mạnh hơn để buộc Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị. Kissinger mở cuộc họp báo vào ngày 16-12.
Năm 1972, ngày 15-12 tại Sài Gòn, tức là ngày 14-12 tại HK. Theo tài liệu của Bunker cho Stephen Young công bố :
“Về phía Miền Nam, cuối cùng vào ngày 15 tháng 12, Thiệu cho Bunker biết là ông ta đồng ý theo lời yêu cầu của Hoa Kỳ, chấp nhận quân đội Bắc Việt lưu lại tại Miền Nam, nếu Hoa Thịnh Đốn bảo đảm lực lượng đó không vi phạm bản hiệp định sau khi đã ký kết” ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 514 ).
Sự đồng ý của Tổng thống Thiệu là quả trễ, bởi vì kế hoạch dội bom Hà Nội đã được tiến hành.
Năm 1972, ngày 15-12, tại Washington. Tổng thống Nixon gửi tối hậu thư cho đại diện Hà Nội tại Paris, thông báo sẽ thả bom Hà Nội trong vòng 72 tiếng đồng hồ nếu Hà Nội từ chối tiếp tục đàm phán.
Năm 1972, ngày 18-12, Nixon ra lệnh thả bom Hà Nội và Hải Phòng, cuộc tổng tấn công được đặt tên là “Chiến dịch Linebacker II”. Trong vòng 24 giờ đồng hồ 129 máy bay B.52 thả bom xuống các mục tiêu xung quanh Hà Nội, trong khi đó các máy bay F.111 tấn công các sân bay có chứa máy bay Mig.21 của CSVN. Tiếp theo đó là những ngày ném bom ào ạt tương tự như ngày đầu, chính phủ và dân chúng Hà Nội phải sơ tán.
Cường độ của cuộc thả bom lần này được Tổng thống Nixon quy định với Đô đốc Moore, Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên quân HK :
“Tôi không muốn nghe thêm những câu nói vớ vẫn như là chúng tôi không thể dội bom mục tiêu này hay mục tiêu nọ. Đây là cơ hội cho ông dùng sức mạnh quân sự để thắng cuộc chiến tranh này. Và nếu như ông không làm được việc đó thì ông sẽ phải chịu hết trách nhiệm”.
Tổng cộng trong 11 ngày đêm đã có 727 phi vụ B.52 và 640 phi vụ phóng pháo cơ và 1.630 phi vụ yểm trợ. Thả tổng cộng 42.000 tấn bom.
Trong 3 ngày đầu đã có 15 B.52 bị bắn rơi bởi hỏa tiễn phòng không SAM.7 nhưng sau đó Không quân Hoa Kỳ thay đổi chiến thuật phá sóng ra đa nên từ đó cho đến khi chấm dứt thả bom không có thêm B.52 nào bị rơi. Tuy nhiên có tất cả 93 phi công bị mất tích và 32 được ghi nhận là bị bắt *( Sự thực là Hà Nội đã hết hỏa tiễn chống B.52 ).
Năm 1972, ngày 19-12, Đặc sứ Haig trở lại Sài Gòn với bức thư của Tổng thống Nixon. Trong thư nói rằng:
“Tướng Haig qua Sài Gòn không phải để thương lượng với ngài nữa đâu. Đã đến lúc chúng ta phải biểu dương một mặt trận đoàn kết trong lúc thương lượng với kẻ địch, và ngài phải quyết định ngay bây giờ là có còn muốn tiếp tục liên minh với chúng tôi nữa hay không, hay ngài muốn chúng tôi đi tìm một thỏa hiệp riêng rẻ với kẻ địch để chỉ phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ mà thôi” ( The Palace File, Bản dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm ).
Theo kể lại của cựu Tổng thống Thiệu thì ông đọc lại lá thư một lần nữa, rồi hỏi Haig : “Theo tôi hiểu thì ngoài việc ký kết một hiệp ước đình chiến, Tổng thống Nixon cũng muốn tôi ký kết một giao ước mà trong đó Hoa Kỳ tiếp tục yểm trợ VNCH ?” Haig cảm động xác nhận đúng như vậy.
Sau đó Tổng thống Thiệu viết thư trả lời Nixon, ông trình bày mối quan tâm về việc quân CSVN vẫn còn ở lại, ông cần nơi Tổng thống Nixon một bảo đảm về vấn đề này, nghĩa là Hà Nội không được sử dụng số quân cài lại của họ để vi phạm lệnh ngưng bắn.
*[ Theo Tổng thống Thiệu thì phải gia tăng các điều khoản về kiểm
soát đình chiến của phái bộ Liên Hiệp Quốc. 
Nhưng đối với thâm tâm của Nixon thì việc này bằng thừa, một khi người
ta đã chủ tâm muốn phá bỏ hiệp định thì dầu cho có cả trăm điều khoản cũng
không trói tay họ được; huống hồ phái bộ kiểm soát đình chiến không phân biệt
được ai là quân Bắc Việt và ai là quân Cọng sản Miền Nam bởi vì hai quân là một
].
Năm 1972, ngày 21-12. Tài liệu của CIA : “Ngày 21/12 Khiêm nói với Polgar ông hiểu sự thúc bách của dư luận và quốc hội Mỹ (muốn chấm dứt chiến tranh và thấy tù binh Mỹ trở về) và tốt hơn hết Thiệu nên ký Hiệp định để bảo đảm nguồn viện trợ. Khiêm nói Thiệu có thể được thuyết phục bằng cung cách mềm dẽo hơn là bằng áp lực và đe dọa như Kissinger và Haig đã làm.
“Hơn nữa Thiệu chỉ còn chống khoản liên quan đến quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam, và Khiêm nghĩ tổng thống Nixon có đủ uy tín để giải thích với quốc hội Hoa Kỳ về sự nhượng bộ phi lý đó” ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam). *[ Tướng Khiêm là điệp viên cao cấp của CIA cài bên cạnh Tổng
thống Thiệu ].

Hà Nội xin ngồi lại bàn đám phán, và chấp nhận mọi điều kiện của Mỹ
Năm 1972, ngày 24-12, Tổng thống Nixon ra lệnh ngưng ném bom Hà Nội trong ngày lễ Noel. Đồng thời thông báo cho Hà Nội biết rằng ngày 26-12 sẽ tiếp tục ném bom nếu họ không chịu trở lại bàn đàm phán.
Ngày 26-12 Nixon ra lệnh dội bom trở lại.
Cũng trong ngày 26-12, Hà Nội thông báo Lê Đức Thọ sẽ trở lại bàn hòa đàm vào ngày 8-1-1973. Lệnh thả bom vẫn tiếp tục qua tới ngày 29-12 mới chấm dứt, trong những ngày sau cùng quân đội Hà Nội đã dùng hết hỏa tiễn chống máy bay và các súng phòng không đã bắn hết đạn.
*Chú giải : Hà Nội đầu hàng ?
Tài liệu của CIA : “Sau khi Thọ trở về Hà Nội, Nixon ra lênh oanh tạc vùng Hà Nội, Hải phòng bằng B52 trong suốt một tuần lễ vào dịp lễ Giáng sinh. Hà Nội hoảng hốt ra lệnh Thọ trở lại Paris tiếp tục đàm phán. Hoa Kỳ ngưng dội bom. Ngày 12/1/1973 sau khi Hoa Kỳ ngưng dội bom, tình báo CIA tại Hà Nội cho biết Hà Nội sẵn sàng ký Hiệp định vào ngày 20/1/1973” ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam ).
Tài liệu của Lưu Văn Lợi : “Ngày 26, Hà Nội mới trả lời: … đề nghị cuộc gặp này sẽ vào ngày 8 tháng 1 năm 1973”. Nghĩa là trong 4 ngày của đợt 1 Hà Nội còn tin tưởng vào con số máy bay B.52 bị rớt, nhưng qua ngày thứ 4 thì không còn chiếc máy bay nào bị bắn rớt. Và bước qua ngày đầu đợt 2 thì mới hay là hỏa tiễn chống máy bay đã không còn. Lúc đó mới vội vàng xin thương thuyết trở lại.
Mãi cho đến sau năm 1975 những người ngoài Bắc vào Nam thăm thân nhân đã tỏ ý tiếc là ngày đó Hà Nội đã chuẩn bị đầu hàng. Thuở đó, 1975, cũng có người tin người không. Nhưng đến năm 2007 thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vui vẻ xác nhận với ký giả Walter Cronkite của cơ quan truyền thông CBS Hoa Kỳ :
“ Cho tới nay tôi vẫn không hiểu nổi tại sao người Mỹ các anh lại chấm dứt thả bom Hà Nội (1972). Các anh đã tròng cổ được chúng tôi rồi. Nếu các anh nhấn thêm một chút nữa, chỉ một hoặc hai ngày nữa, chúng tôi đã sẵn sàng đầu hàng. Cũng giống như trận tết Mậu Thân, các anh đã đánh bại chúng tôi rồi”.
*[
Nguyên văn : “What we still don’t understand why you Americans stopped the
bombing of Hanoi.  You had us on the
rops.  If you had pressed us a little
harder, just another day or two, we were ready to surrender. It was the same at
the battles of Tet.  You defeated us”. (

Cuộc phỏng vấn tại Hà Nội ngày 8-12-2007. 
Nguyên văn do Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn sưu tầm và đăng trong tác phẩm
“Chiến Tranh Việt Nam, Một Nước Cờ Độc”, trang 24 ].
Vào năm 2010, một cựu viên chức Mật vụ HK là ông Ted Guderson đã nói trong một buổi hội thảo của Hội Cựu chiến binh HK rằng đầu năm 1973 nhân viên truyền tin của MACV đã nhận được một bức điện văn của Hà Nội xin đầu hàng. Nhưng sau đó CIA đã cho ém tin này bằng cách thay hết 79 nhân viên truyền tin tại MACV.
Tiết lộ của ông Guderson không có sức thuyết phục, bởi vì theo ông thì bức điện xin đầu hàng được đánh đi vào đầu năm 1973 trong lúc cuộc ném bom đang còn tiếp diễn. Điều này không đúng bởi vì cuộc ném bom đã chấm dứt từ ngày 29-12-1972.
Sở dĩ cuộc dội bom chấm dứt vì ngày 26-12-1972 Hà Nội đánh điện cho Hà Văn Lâu tại Paris, bảo Lâu hãy gặp đại diện của Kissinger tại Paris để báo cho Washington là HN chấp nhận ngồi trở lại vào bàn đàm phán, cụ thể là họp lại trong ngày 8-1-1973.
Nghĩa là Hà Nội đã đầu hàng bằng cách xin ngồi lại vào bàn đàm phán và chấp nhận mọi điều kiện của Mỹ, kể cả 69 điểm đòi sửa đổi của Nguyễn Văn Thiệu. Còn phía Mỹ không thê bắt Hà Nội công khai đầu hàng bởi vì nếu để cho Hà Nội đầu hàng thì hóa ra Liên Xô và Trung Cọng trói tay Hà Nội cho Mỹ chém. Cho nên dư luận thế giới, nhất là Liên xô và Trung Cọng, sẽ không chấp nhận điều này. Riêng người Mỹ cũng không muốn có một chiến thắng kiểu đó.

BÙI ANH TRINH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s